Thép Việt trên hành trình xanh [Bài 1]: Bước tiến đáng tự hào

Việt Nam lần đầu vào Top 10 quốc gia sản xuất thép thô lớn nhất thế giới, khẳng định bước tiến của ngành công nghiệp nền tảng trước những yêu cầu cạnh tranh mới.

21/09/2026 11:21

Vị thế của một ngành công nghiệp nền tảng

Từ những công trình hạ tầng, nhà ở đến máy móc, phương tiện và hàng tiêu dùng, thép hiện diện trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa, nhu cầu thép ngày càng tăng, tạo động lực cho ngành công nghiệp này phát triển.

Song hành với sự phát triển của đất nước, ngành thép Việt Nam từng bước mở rộng quy mô và hội nhập sâu vào ngành thép toàn cầu, từ nguyên, nhiên liệu đầu vào, công nghệ sản xuất đến chuỗi cung ứng và tiêu thụ. Từ chỗ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia sản xuất thép thô lớn trên thế giới.

Cùng với năng lực sản xuất ngày càng được mở rộng, thép Việt Nam cũng từng bước gia tăng hiện diện trên thị trường quốc tế, với sản phẩm được xuất khẩu tới nhiều thị trường lớn. Theo Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), xuất khẩu thép thành phẩm các loại của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 6,69 triệu tấn, tăng 4,2% so với cùng kỳ; giá trị xuất khẩu ước đạt 4,54 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2025. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu gồm ASEAN, EU, Hoa Kỳ, Brazil và Ấn Độ.

6f361539-9d5a-4710-adad-1b1e4cb059ad-085956_535-212946 Đồ họa: Hồng Thắm. Số liệu: VSA.

Không chỉ cung cấp vật liệu đầu vào cho nền kinh tế, ngành sắt thép còn trực tiếp sử dụng hàng trăm nghìn lao động, với mức thu nhập cao hơn mức thu nhập chung; tạo ra doanh thu khoảng 20 tỷ USD mỗi năm, trong đó xuất khẩu đạt gần 10 tỷ USD. Chuỗi cung ứng của ngành cũng tạo ra hàng triệu việc làm gián tiếp.

Tác động của ngành thép còn thể hiện rõ tại những địa phương có các cơ sở sản xuất quy mô lớn. Tại Hà Tĩnh, nơi Nhà máy thép Formosa hoạt động, từ một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước, năm 2023 tăng trưởng kinh tế địa phương (GRDP) ước đạt 8,05%, đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ.

Tại Quảng Ngãi, nơi có Nhà máy Thép Hòa Phát Dung Quất, năm 2023, GRDP bình quân đạt 4.283 USD/người, tăng 1,7 lần so với mức 2.514 USD/người năm 2018, thời điểm trước khi Hòa Phát Dung Quất hoạt động.

Những con số ấy phần nào cho thấy sức lan tỏa của ngành thép đối với sản xuất, việc làm, thu nhập và tăng trưởng tại địa phương. Trải qua những giai đoạn thăng trầm, thép Việt Nam không chỉ từng bước đáp ứng nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển mà còn mở rộng quy mô, nâng cao năng lực sản xuất và xác lập vị thế mới trên bản đồ thép thế giới.

Vị thế mới, sức ép cạnh tranh mới

Cũng theo báo cáo của VSA, 7 tháng đầu năm 2026, sản xuất thép thô của Việt Nam đạt 17,92 triệu tấn, tăng 28%, cao hơn mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (gần 12%) và mức tăng của toàn ngành công nghiệp (gần 11,4%).

Trong cùng thời gian, sản xuất thép thành phẩm các loại đạt 21,4 triệu tấn, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm 2025. Hầu hết các mặt hàng đều ghi nhận tăng trưởng, ngoại trừ tôn mạ giảm 13,5% và thép cán nguội giảm 10,2%.

Ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (VNSTEEL) cho biết, dự kiến năm 2026, sản lượng thép thô của Việt Nam đạt trên 25 triệu tấn, thép thành phẩm khoảng 33 - 35 triệu tấn. Với quy mô này, Việt Nam hiện đứng thứ 10 thế giới về sản lượng thép thô.

bf18f32b-aa17-4a11-b1e1-1d30389a368d-085224_921-212947 Ông Nghiêm Xuân Đa - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam. Ảnh: Hồng Thắm.

Theo ông Đa, đây là dấu mốc đáng chú ý khi Việt Nam lần đầu tiên gia nhập nhóm 10 quốc gia sản xuất thép thô lớn nhất thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Đức và Brazil.

Không chỉ gia tăng về quy mô, những năm qua, thép Việt Nam còn xuất khẩu khá tốt, hiện diện tại khoảng 30 - 40 thị trường trên thế giới. Đáng chú ý, sản phẩm thép Việt Nam đã vào được những thị trường có yêu cầu cao như Hoa Kỳ và châu Âu. Theo ông Đa, điều đó cho thấy chất lượng thép Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính, đồng thời thể hiện khả năng cạnh tranh và thích ứng của doanh nghiệp trong nước.

Tuy nhiên, hội nhập càng sâu, sức ép từ thị trường bên ngoài càng lớn. Theo Chủ tịch VSA, chủ nghĩa bảo hộ đang có xu hướng gia tăng trên thế giới, trong đó thép thường là một trong những mặt hàng chịu tác động mạnh. Tại các thị trường như Hoa Kỳ, châu Âu hay ASEAN, các vụ việc điều tra chống bán phá giá và áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại ngày càng gia tăng.

Cùng với đó là các rào cản kỹ thuật, cơ chế điều chỉnh biên giới (CBAM), hàng rào phi thuế quan và yêu cầu kiểm tra trước thông quan... Đây là thực tế mà ngành thép Việt Nam phải chấp nhận và chủ động thích ứng nếu muốn duy trì, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo ông Đa, nguyên nhân sâu xa của sức ép cạnh tranh hiện nay nằm ở tình trạng dư thừa công suất thép trên phạm vi toàn cầu trong những năm qua. Dự báo của chuyên gia cho thấy, đến năm 2027, thế giới sẽ dư thừa trên 720 triệu tấn thép, vì vậy sức ép cạnh tranh thời gian tới sẽ ngày càng lớn, đặc biệt là cạnh tranh về giá.

z5613570503019_1c6485b813611abce4392161b3779b6b Ngành thép Việt Nam từng bước mở rộng quy mô và hội nhập sâu vào ngành thép toàn cầu. Ảnh minh họa.

Trong cuộc cạnh tranh đó, Việt Nam không có nhiều lợi thế về nguyên liệu. Theo ông Đa, sự phát triển của ngành thép thời gian qua trước hết dựa trên nội lực và sự phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu thép tăng lên cùng quá trình phát triển đất nước, tạo thị trường và động lực để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư khi nhìn thấy cơ hội và hiệu quả.

Tuy nhiên ở chiều ngược lại, ngành thép Việt Nam cũng có những lợi thế riêng về vị trí địa lý, khả năng thích ứng và sự linh hoạt trong tìm kiếm thị trường. Việc sản phẩm thép đã vào được những thị trường khó tính như Hoa Kỳ và châu Âu cũng cho thấy doanh nghiệp Việt Nam có khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Đặc biệt, nhu cầu tiêu thụ tại thị trường nội địa là một lợi thế quan trọng, vừa tạo nền tảng cho ngành thép phát triển, vừa là bước đệm để doanh nghiệp tiến tới các thị trường Đông Nam Á, Đông Âu, châu Phi và Trung Á.

Việc lần đầu gia nhập Top 10 quốc gia sản xuất thép thô lớn nhất thế giới đánh dấu bước tiến quan trọng của thép Việt về quy mô và vị thế. Tuy nhiên, đi cùng vị thế mới là sức ép cạnh tranh ngày càng lớn. Để giữ được chỗ đứng và tiếp tục mở rộng thị trường, ngành thép không chỉ phải cạnh tranh về sản lượng, giá thành, chất lượng mà còn phải thích ứng với những yêu cầu mới của thương mại toàn cầu. Trong đó, giảm phát thải carbon và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường đang dần trở thành yêu cầu quan trọng đối với sản phẩm thép. Với một ngành tiêu thụ nhiều năng lượng và có mức phát thải lớn, chuyển đổi xanh là hành trình nhiều thách thức. Nhưng đây cũng là bước chuyển khó tránh để thép Việt duy trì năng lực cạnh tranh, giữ vững vị thế và tiến xa hơn trên thị trường thế giới. 

Hồng Thắm (nongnghiepmoitruong.vn)