Thép Việt trên hành trình xanh: [Bài 2] ‘Tôi thép’ trong cuộc đua xanh
Khi giảm phát thải trở thành một tiêu chí cạnh tranh, ngành thép Việt đứng trước bài toán vừa duy trì tăng trưởng, vừa đầu tư công nghệ và từng bước giảm 'dấu chân các-bon'.
21/09/2026 11:58
Cuộc đua giảm phát thải đã bắt đầu
Trong nhiều thập kỷ, thép là vật liệu nền tảng của quá trình công nghiệp hóa, nhưng cũng là ngành gắn với tiêu thụ năng lượng lớn và phát thải các-bon cao. Khi mục tiêu trung hòa các-bon ngày càng được cụ thể hóa tại nhiều nền kinh tế, giảm phát thải đang trở thành một cuộc đua mới của ngành thép toàn cầu.
Báo cáo Lộ trình công nghiệp thép Việt Nam hướng tới mục tiêu trung hòa khí nhà kính vào năm 2050 của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết, nhiều tập đoàn thép hàng đầu thế giới đã đưa ra những lộ trình cụ thể.
Chẳng hạn như, ArcelorMittal đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 25% cường độ phát thải toàn cầu, riêng tại châu Âu giảm 35% so với năm 2018 và hướng tới Net Zero vào năm 2050.
Nhiều doanh nghiệp thép lớn trên thế giới đang đẩy mạnh các giải pháp giảm phát thải. Ảnh: Oecd.
Nippon Steel đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 30% lượng phát thải CO₂ trở lên so với năm 2013, tiến tới trung hòa các-bon vào năm 2050 thông qua các giải pháp như mở rộng lò điện EAF, sản xuất thép hoàn nguyên trực tiếp bằng hydro (DRI); thu hồi, sử dụng và lưu trữ các-bon (CCUS) và các giải pháp khác.
Tata Steel cam kết đưa cường độ phát thải xuống dưới 2 tCO₂/tấn thép thô vào năm 2025 và dưới 1,8 tCO₂/tấn vào năm 2030 tại Ấn Độ; tại Hà Lan, giảm 35 - 40% lượng phát thải CO₂ vào năm 2030 và trung hòa CO₂ vào năm 2045.
Trong khi đó, POSCO đặt mục tiêu giảm 10% lượng khí thải vào năm 2030, 50% vào năm 2040 và trung hòa các-bon vào năm 2050. Hyundai Steel cũng hướng tới giảm 12% lượng khí thải các-bon trực tiếp và gián tiếp vào năm 2030, tiến tới Net Zero vào năm 2050.
Những cam kết với các mốc thời gian ngày càng cụ thể cho thấy cuộc đua giảm phát thải của ngành thép thế giới đã thực sự bắt đầu. Doanh nghiệp không còn chỉ cạnh tranh bằng quy mô, chất lượng hay giá thành, mà ngày càng phải tính đến lượng các-bon trong mỗi tấn thép được sản xuất. Trong cuộc đua ấy, thép Việt Nam không đứng ngoài.
Áp lực phát thải tăng theo quy mô sản xuất
Cũng theo Báo cáo Lộ trình công nghiệp thép Việt Nam hướng tới mục tiêu trung hòa khí nhà kính vào năm 2050 của VSA, phát thải CO₂ của công nghiệp thép Việt Nam chiếm khoảng 7% tổng phát thải quốc gia, tương đương tỷ trọng phát thải của công nghiệp thép thế giới trong tổng lượng phát thải toàn cầu.
Sự phát triển nhanh về quy mô sản xuất thép đang đi cùng bài toán ngày càng lớn về phát thải. Theo các chuyên gia và số liệu tổng hợp từ VSA cho thấy, năm 2018, Việt Nam sản xuất 15,6 triệu tấn thép thô, với lượng phát thải CO₂ ước tính 26,4 triệu tấn. Đến năm 2019, sản lượng tăng lên 17,5 triệu tấn, kéo theo lượng phát thải ước khoảng 30,6 triệu tấn CO₂.
Biểu đồ: Hồng Thắm/ Số liệu: VSA.
Năm 2021, sản lượng thép thô đạt 23 triệu tấn, lượng phát thải ước tính lên tới 44,4 triệu tấn CO₂. Sang năm 2022, sản lượng giảm còn 20 triệu tấn, lượng phát thải giảm xuống 36,3 triệu tấn CO₂. Hai năm gần đây, cùng với sự phục hồi của sản xuất, áp lực phát thải tiếp tục gia tăng. Năm 2024, sản lượng thép thô đạt 22 triệu tấn, tương ứng lượng phát thải ước tính 48 triệu tấn CO₂. Đến năm 2025, hai con số này lần lượt tăng lên 24,7 triệu tấn và 52 triệu tấn CO₂.
Như vậy, từ năm 2018 đến hết 2025, sản lượng thép thô tăng từ 15,6 triệu tấn lên 24,7 triệu tấn; lượng phát thải CO₂ ước tính cũng tăng từ 26,4 triệu tấn lên 52 triệu tấn.
Những con số ấy đặt ra một câu hỏi lớn cho chặng đường phát triển tiếp theo: Làm thế nào để ngành thép tiếp tục tăng trưởng mà phát thải không còn tăng tương ứng với sản lượng?
Giảm phát thải để nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong bối cảnh đó, định hướng phát triển ngành thép của Việt Nam cũng đã đặt yêu cầu giảm phát thải bên cạnh mục tiêu tăng trưởng về quy mô và sản lượng.
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 261/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, sản xuất thép thô đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 7 - 8%/năm, sản lượng khoảng 25 - 26 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm dự kiến tăng trưởng từ 5,5 - 6,5%/năm, đạt sản lượng khoảng 32 - 33 triệu tấn. Mức tiêu thụ thép bình quân đạt 270 - 280 kg/người/năm. Sản phẩm thép trong nước cơ bản đáp ứng khoảng 80 - 85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước gia tăng tỷ trọng xuất khẩu.
Chiến lược đề ra định hướng chung tập trung phát triển các sản phẩm có lợi thế, có nhu cầu sử dụng cao hiện tại trong nước chưa sản xuất được; chú trọng đầu tư vào các dự án sản xuất thép công nghệ tiên tiến, hiện đại, sản xuất thép xanh, thép hợp kim, thép cho ngành chế tạo, các sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, có đủ khả năng tham gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời tăng nhanh hàm lượng khoa học, công nghệ nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn quốc tế.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu cụ thể đối với việc phát triển các doanh nghiệp ngành thép theo hướng hiện đại, bền vững, sử dụng công nghệ mới; thiết bị máy móc hiện đại, sản xuất sản phẩm chất lượng cao, đa dạng hóa sản phẩm; giảm phát thải khí nhà kính nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.
Uu tiên phát triển các dự án thép tập trung, quy mô lớn gần các khu vực ven biển có cảng nước sâu, đồng thời rà soát đảm bảo các cơ sở sản xuất nhỏ đáp ứng được yêu cầu về công nghệ và môi trường với lộ trình chuyển đổi phù hợp. Các dự án sản xuất nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu, sản xuất kém hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường không đáp ứng yêu cầu về công nghệ và môi trường với lộ trình cần phải đổi mới công nghệ để đáp ứng cả quy chuẩn tiêu thụ năng lượng và môi trường phù hợp.
Chuyển đổi xanh là quá trình dài hạn
Ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (VNSTEEL) khẳng định, chuyển đổi xanh đối với ngành thép không còn là một xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc và là nhu cầu tất yếu để duy trì năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Hiện nay, các thị trường lớn như Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Hàn Quốc đều đang thúc đẩy các tiêu chuẩn về phát thải các-bon và phát triển bền vững. Đặc biệt, việc EU triển khai Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang tạo ra những yêu cầu mới đối với các ngành công nghiệp có mức phát thải cao, trong đó có ngành thép.
Ngành thép của Việt Nam cũng đã đặt yêu cầu giảm phát thải bên cạnh mục tiêu tăng trưởng về quy mô và sản lượng. Ảnh: Hồng Thắm.
Trước bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp thép Việt Nam đã đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng, tăng cường sử dụng thép phế liệu, tận dụng nhiệt dư để phát điện, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn và từng bước sử dụng các nguồn năng lượng sạch hơn trong sản xuất.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp bắt đầu xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính, chuẩn bị dữ liệu phát thải và tiếp cận các tiêu chuẩn báo cáo, chứng nhận môi trường theo thông lệ quốc tế.
“Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng chuyển đổi xanh trong ngành thép là quá trình dài hạn. Đây không chỉ là câu chuyện đầu tư công nghệ mà còn liên quan đến năng lượng, nguyên liệu, tài chính và hệ thống chính sách hỗ trợ. Vì vậy, ngành thép Việt Nam đang đi đúng hướng nhưng cần thêm thời gian và nguồn lực để đạt được các mục tiêu giảm phát thải theo cam kết quốc gia và yêu cầu của thị trường quốc tế”, ông Đa nhấn mạnh.
Theo ông Đa, thách thức lớn nhất hiện nay là cân bằng giữa mục tiêu giảm phát thải với yêu cầu duy trì hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh. Thép là ngành tiêu thụ năng lượng lớn, yêu cầu vốn đầu tư rất cao. Trong khi đó, các công nghệ giảm phát thải tiên tiến như sử dụng năng lượng tái tạo, thu hồi nhiệt dư, số hóa quản trị năng lượng hay sản xuất thép carbon thấp đều đòi hỏi nguồn vốn lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài.
Ngoài ra, hệ thống tiêu chuẩn đo lường, kiểm kê và xác minh phát thải tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Ông Đa dẫn ví dụ, một doanh nghiệp vừa đầu tư dây chuyền công nghệ mới và mới hoạt động được 8 năm, trong khi để thu hồi vốn cần tới 40 năm. Không thể yêu cầu doanh nghiệp ngay lập tức loại bỏ dây chuyền để đầu tư một công nghệ hoàn toàn mới. Bởi vậy, chuyển đổi cần có lộ trình. Trong khi chờ những bước thay đổi lớn về công nghệ, doanh nghiệp vẫn có thể bắt đầu bằng những giải pháp giảm tiêu hao năng lượng, tối ưu sản xuất và giảm phát thải trên chính các dây chuyền hiện hữu.
Doanh nghiệp thép Việt nhập cuộc
Bám sát cam kết của Chính phủ Việt Nam tại COP26, VNSTEEL xác định con người là yếu tố trung tâm, đồng thời là động lực quan trọng trong quá trình chuyển đổi xanh.
Bên cạnh đầu tư đổi mới công nghệ, VNSTEEL chú trọng truyền thông, đào tạo và nâng cao năng lực cho các đơn vị thành viên. Hệ thống tài liệu hướng dẫn được xây dựng, nhiều chương trình tập huấn được tổ chức nhằm phổ biến quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, cập nhật yêu cầu về kiểm kê khí nhà kính, quản lý phát thải và phát triển bền vững.
Ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (VNSTEEL) cho biết, ngành thép Việt Nam đang đi đúng hướng nhưng cần thêm thời gian và nguồn lực để đạt được các mục tiêu giảm phát thải theo cam kết quốc gia và yêu cầu của thị trường quốc tế. Ảnh: Duy Học.
Với hệ thống hơn 30 đơn vị sản xuất, kinh doanh thép, VNSTEEL cũng tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm giữa các đơn vị thành viên và với doanh nghiệp bên ngoài, qua đó giúp từng doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.
Tại Thép Miền Nam - VNSTEEL, giảm phát thải bắt đầu từ tối ưu năng lượng và chuyển đổi nguồn nhiên liệu. Doanh nghiệp tận dụng phôi nóng, quản lý phụ tải, tối ưu công đoạn luyện và cán, phấn đấu giảm khoảng 30 kWh/tấn ở luyện phôi và 10 kWh/tấn ở cán, tổng mức tiết giảm có thể đạt 40 kWh/tấn sản phẩm.
Ở lò nung phôi, doanh nghiệp đã chuyển từ dầu FO sang khí tự nhiên, giúp giảm khói bụi và các chất ô nhiễm. Thép Miền Nam duy trì kiểm kê khí nhà kính ở cả phạm vi 1 (phát thải trực tiếp) và phát thải gián tiếp phạm vi 2, đồng thời xây dựng phương án mua điện xanh theo cơ chế DPPA và phát triển điện mặt trời.
Tại Tôn Phương Nam (SSSC), hướng đi cũng bắt đầu từ công nghệ, năng lượng và kiểm soát phát thải ngay từ nguồn. Doanh nghiệp sử dụng NG, CNG và LPG cho lò gia nhiệt, lò nung; áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2015. Đồng thời, SSSC đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải và chất thải rắn, tăng tự động hóa, giảm tiêu hao nguyên liệu và tối ưu hiệu suất vận hành.
Từ tiết kiệm từng kWh điện, thay đổi nhiên liệu, kiểm kê phát thải đến đầu tư công nghệ, những chuyển động ấy cho thấy “tôi thép” trong cuộc đua xanh không nhất thiết bắt đầu bằng những thay đổi thật lớn.
Các doanh nghiệp thép Việt Nam đang từng bước thích ứng với yêu cầu mới. Chuyển đổi xanh sẽ cần thêm thời gian, nhưng những thay đổi từ hôm nay đang tạo nền tảng để ngành thép phát triển bền vững hơn trong chặng đường phía trước.
Ông Nghiêm Xuân Đa, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thép Việt Nam - CTCP (VNSTEEL) nhấn mạnh: “Tôi cho rằng, bài toán vừa giảm phát thải vừa nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu tự chủ công nghiệp là một bài toán rất khó. Chắc chắn sẽ không có một giải pháp đơn lẻ nào có thể đồng thời đạt được cả hai mục tiêu đó trong ngắn hạn. Yếu tố mang tính đột phá nằm ở việc xây dựng một hệ sinh thái toàn diện cho ngành thép”.
Hồng Thắm - Duy Học (nongnghiepmoitruong.vn)